Thứ Sáu, ngày 08 tháng 4 năm 2011

Thứ Ba, ngày 25 tháng 1 năm 2011






































































































































































































































































































































Nhật ký Người Mẹ

Bây giờ đã khuya lắm rồi, mặc dù mẹ đã làm biết bao công việc trong ngày để chuẩn bị chu đáo cho đêm Sinh nhật của con nhưng mẹ không cảm thấy mệt mỏi chút nào, hoặc nếu có thì cũng đã bị bao niềm hân hoan sung sướng làm cho tan biến cả. Đêm nay ba và mẹ đã âu yếm nhìn con nhí nhảnh vui tươi trong chiếc áo dài màu trắng trinh nguyên điểm vài cánh hoa lan màu hồng phớt e ấp giữa những chiếc lá xanh thon dài mềm mại, thấy con thật sự đã trưởng thành.Để mở đầu buổi dạ tiệc, con đã đứng trước đám đông bạn bè (bạn của con và của các anh chị con họp lại cũng khá đông) mà từ hồi nào tới giờ con chưa một lần dám phát biểu một điều gì. Với giọng nói run run đầy cảm xúc và đôi phút ngượng ngùng bối rối con đã ngỏ lời cám ơn ba mẹ, các anh các chị con đã giúp đỡ để con có được buổi Sinh nhật hôm nay, và con cũng cám ơn các bạn con đã đến chung vui với con trong ngày có thể gọi là „trọng đại“ nầy của con. Sau khi các bạn con hát bài chúc tụng Sinh nhật, con khẽ nghiêng mình làm mái tóc đen nhánh xỏa xuống che kín phân nửa khuôn mặt thanh tú, lấy hết hơi con thổi tắt 18 ngọn nến nhỏ viền sáng chiếc bánh được trình bày vô cùng khéo léo với dòng chữ được nặn bằng chất kem hồng tươi „SN QUYÊN 08-08-93“.Sau đó con như con bướm trắng nhỏ bay lượn trong đám đông đầy màu sắc rực rỡ, đến chỗ này một chút chỗ nọ một chút, chia đều niềm vui với tất cả mọi người. Thỉnh thoảng con cũng chạy lại bên ba mẹ hỏi ý kiến nên làm thế nào nữa, con của mẹ vẫn còn là một cô bé quá ngây thơ trước ngưỡng cửa cuộc đời… Tiệc tàn vào lúc nửa khuya, sau khi tiển người khách cuối cùng ra cửa, mọi người trong gia đình đã bắt tay ngay vào việc thu dọn chén dĩa ly tách, xê dịch bàn ghế gọn vào một chỗ, quét dọn rác rến, lau chùi sàn nhà sạch sẽ để kịp trả hội trường cho nhà thờ ngay sáng hôm sau. Về đến nhà cũng gần ba giờ sáng, cả nhà ai nấy đều nằm vật ra giường và chìm sâu vào giấc ngủ sau một đêm vui chơi và làm việc tận lực. Riêng mẹ vẫn còn thao thức trăn trở với bao niềm suy tư, cảm khái. Mẹ rón rén bước khỏi giường, đến cắm điện vào cây đèn để trên bàn viết, hạ bóng đèn thật thấp để khỏi làm chói mắt ba con mặc dù người đã ngủ say với tiếng ngáy đều đều trong đêm vắng. Mẹ ngồi vào bàn và bắt đầu thảo vội vàng những dòng này vì sợ những ý nghĩ bất chợt đến sẽ không tìm thấy lại được.Sở dĩ ngày Sinh nhật thứ 18 nầy của con mẹ phải nói dài dòng vì con là con út của mẹ, đứa con xinh đẹp mà ngây thơ khờ dại nhất nhà. Và điều đáng nói nhất là sự ra đời của con gắn liền với niềm đau chung của cả nước: 18 tuổi đời của con đánh dấu 18 năm nước nhà rơi vào bàn tay Cộng sản. Ngày mà bộ đội miền Bắc với xe tăng Liên xô và khí giới Trung quốc hùng hổ tiến vào thủ đô Sài Gòn và những kẻ chiến thắng nghênh ngang tiến vào thu dinh Độc lập thì mẹ đã mang con trong bụng được tròn sáu tháng.Cách đây cũng ba bốn năm rồi đã có lần con hỏi mẹ:Mẹ ơi, tại sao chúng ta không sống ở nước mình mà lại qua chi cái xứ lạnh lẽo nầy? Ở lại Việt Nam thì khí hậu ấm áp và hơn nữa việc học hành dễ dàng biết bao nhiêu, qua đây phải học thứ tiếng Đức nầy thật là khó!Nghe những câu hỏi thật khờ khạo của con mẹ phải phì cười, con tôi thật ngây thơ. Ờ, phải rồi, ngày mấy mẹ con mình qua đây sum họp với ba và anh hai con thì con mới được 9 tuổi, vừa học hết lớp ba bên nhà. Con còn quá nhỏ để biết những gì đã xảy ra cho gia đình mình, cho đất nước mình, cho nên con đã đặt nhiều câu hỏi và mẹ cũng đã trả lời khá vắn tắt khả dĩ cho con hiểu được một đôi phần. Mẹ đã bảo con là để có dịp nào khi con lớn lên mẹ sẽ giải thích cho con tường tận hơn. Thì hôm nay là ngày đánh dấu sự trưởng thành của con, mẹ sẽ viết ra đây cho con biết rõ những gì con còn vướng mắc trong tâm tư, mẹ hy vọng con sẽ được thông suốt hơn. Con sẽ hiểu vì sao gia đình mình cũng như hơn một triệu người Việt Nam khác đã phải lìa bỏ quê hương xứ sở mà kéo lê kiếp sống tha hương nơi xứ người….Hồi tưởng lại 18 năm về trước… Vào một buổi sáng mùa xuân, khoảng thượng tuần tháng 3 năm 75, sau khi hết giờ dạy mẹ bước vào phòng họp của giáo sư trong một ngôi trường Nữ Trung học của thị xã. Các cô giáo đều rực rỡ tươi đẹp trong những chiếc áo dài mới, hương vị ba ngày Tết vẫn còn quanh quẩn trong không khí học đường. Thế nhưng mẹ không còn nghe những tiếng nói cười ròn rã như mọi hôm mà trên nét mặt mọi người không giấu được vẻ trầm tư lo lắng.Trong một góc phòng mấy cô đang ngồi bàn tán có vẻ nghiêm trọng. Ngọc Hân, cô giáo dạy Sử-địa khuôn mặt bầu bĩnh hiền hậu, trên đôi mắt to đen của cô cố giữ cho khỏi trào ra những giọt nước mắt. Với giọng nói nghẹn ngào cô nói một thôi dài như để mọi người cùng chia xẻ niềm lo lắng của cô:
- Ban-mê-thuột mất rồi các chị ơi! (Điều nầy thì tối qua ba mẹ đã biết được qua đài phát thanh Quân đội), Pleiku cũng đang bị bỏ ngõ. Người ta tản cư vô số kể, mọi người đổ xô trên quốc lộ 19 đổ về các thị xã Qui-nhơn, Tuy- hòa và Nha-trang. Đường sá lại hư hết, chỗ thì bị đặt mìn chỗ thì bị đấp mô nên không thể đi bằng xe đò được. Nghe nói người ta thồ bằng xe đạp, xe ba bánh, hoặc gồng gánh lũ lược kéo nhau đi bộ băng rừng vượt suối. Trời ơi, bây giờ em không biết gia đình em ở đâu? Ba má và các em của em ở Phú-bổn có chạy được không? Em đã gởi mấy cái điện tín rồi mà không thấy trả lời, bây giờ chắc họ chạy hết cả rồi!Thúy-Vinh, cô giáo Vạn-vật cũng góp lời:Em nghe nói đồng bào ở Huế đã di tản vào Đà-nẵng gần hết và nơi nầy thiên hạ đang đổ xô ra các bến tàu để vào trong Nam. Gia đình bà dì em ở Quảng-ngãi không biết bây giờ ra sao, không biết họ đã di tản chưa? Mấy đứa con của dì em còn nhỏ xíu mà đi bộ làm sao chúng nó chịu nỗi!Mỹ linh dạy Việt-văn người nhỏ nhắn, dáng gầy mảnh mai, cũng rươm rướm nước mắt than thở:Ba má em ở Sài-gòn cứ gọi điện thoại ra ngày một, báo em phải thu xếp về ngay nhưng em đâu có thể bỏ nhiệm sở được. Thầy Bảo, giáo sư biệt phái dạy toán, vừa từ bên văn phòng bước qua, tay cầm ly nước trà nóng chu miệng thổi phù phù cho mau nguội, nghe các cô bàn tán xôn xao thầy cũng đi đến gần góp chuyện:Các chị đừng có lo quá. Theo tôi nghĩ thì quân đội ta rút lui có chiến thuật đấy. Họ chỉ tạm bỏ ngõ miền cao nguyên thôi, để khi Việt-cộng vào chiếm cứ các căn cứ, bên ta sẽ dùng Không lực tấn công làm cho họ trở tay không kịp. Làm gì họ đến Bình định nổi! Sư đoàn 22 bộ binh ở đây là một Sư đoàn thiện chiến lại thêm có căn cứ Không quân ở Phù-các nữa. Có hai lực lượng nầy thì Quy-nhơn yên ổn như bàn thạch.Câu nói lạc quan của thầy Bảo làm bầu không khí bớt căn thẳng nhưng câu chuyện vẫn xoay quanh việc di tản ra khỏi thành phố trước khi bộ đội miền Bắc tấn công tới.Dương Nga, cô giáo cỡ lứa tuổi mẹ, có ba con còn nhỏ, kéo mẹ đến cuối phòng thầm thì:-Ông Bảo nói rứa chứ mình thấy tình hình ni coi bộ không êm rồi. Mấy đứa con mình và con chị còn nhỏ quá mình phải lo tính trước mới được. Tụi mình định thuê một chiếc xe hàng nhỏ, nghe nói khoảng ba chục ngàn, để đi cả gia đình và có thể chở bớt đồ đạt theo. Bất cứ giá nào mình cũng phải chở theo cái máy may và chiếc xe Honda của ông xã. Còn anh chị tính răng?Khi đó lòng mẹ còn bối rối lo sợ hơn các đồng nghiệp bội phần vì mẹ đã mang con trong bụng được gần bốn tháng rồi. Mẹ vốn ốm yếu và lại thai nghén chắc là không thể đi bằng bất cứ xe gì được trong hoàn cảnh nầy. Từ Quy-nhơn vào Sài-gòn đường xa diệu vợi, trên quốc lộ Số 1 nhiều chỗ đường bị cắt đứt lại nhiều bất trắc: đèo Cù-mông, đèo Cả, Đại-lãnh, rừng Lá…. Chỗ nào cũng có thể bị phục kích, cướp bóc … Tuy nhiên mẹ cũng tán thành ý kiến của cô bạn:-Bồ tính trước vậy cũng phải, nếu có điều kiện thì nên di tản sớm chừng nào tốt chừng nấy. Tụi nầy thì chắc chưa đi được nhưng cũng lo lắm đây. Bây giờ việc trước mắt là sắm cho mấy đứa nhỏ mỗi đứa một xách tay đựng vài ba bộ quần áo, đồ dùng cá nhân, lương khô và một số tiền giắt lưng, rủi ro có thất lạc cũng có thể sống được một thời gian. Thời buổi loạn lạc ai biết được việc gì sẽ xảy ra một khi Việt cộng tràn đến sau lưng, mạnh ai nấy chạy!Câu chuyện còn kéo dài nữa nếu tiếng chuông không reo lên nhắc nhở giờ vào lớp. Mọi người uể oải người nào vào lớp nấy nhưng chắc ai cũng không còn tinh thần để tiếp tục bổn phận cao quý của mình.Từ ngày có lệnh tổng động viên để có đủ quân số gởi ra chiến trường đối phó với những cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt ngày càng leo thang, thầy trò trở nên hoang mang ngơ ngác không tìm được hướng đi trước biến cố vô cùng nghiệt ngã của lịch sử. Trong trường Cường Đễ, một ngôi trường Trung học lớn nhất thị Xã Q.N., lớp học ngày càng thưa thớt, kỷ luật trở nên lỏng lẻo mà trên cũng không có biện pháp gì khả dĩ ngăn chặn bớt tình trạng bỏ học, phá phách trường lớp, hoặc làm reo…. Nhiều hôm tới giờ vào học vài đồng nghiệp của mẹ lên lớp rồi lại trở xuống văn phòng ngao ngán phân bua với ban giám đốc:Chúng nó đóng chặt cửa lớp, tôi không vào được. Yêu cầu các ông lên giải quyết giùm!Giải quyết xong lớp nầy thì lớp khác lại tán diễn cái trò „bế quan“ để khỏi phải trả bài và nghe giảng bài! Trong mười mấy năm trời đi dạy mẹ chưa bao giờ gặp phải trường hợp nầy, vậy mà không ngờ vào một buổi sáng mà tình trạng học sinh hoang mang cực độ, sau giờ chơi mẹ lửng thửng ôm cặp lên lớp 11B8, một lớp khá ngoan so với mấy lớp 11 kia, thì thấy cửa lớp đóng kín, bên trong học sinh đồng thanh hát bài „Việt Nam! Việt Nam!“, thì ra các lớp khác cũng đồng loạt làm reo, các thầy cô giáo lại lục tục trở về phòng họp giáo sư đợi…ban giám đốc giải quyết. Không ngờ đó là ngày cuối cùng, mẹ không còn gặp lại những học sinh thân yêu trong ngôi trường ở tỉnh miền trung nầy nữa.Đêm đó cuộc tấn công của quân đội Việt cộng bắt đầu hướng về đồng bằng các tỉnh miền Trung. Súng cối 105 ly rót vào các quận Phù-mỹ, Phù-cát và một số tại cửa biển Quy-nhơn ở khu Hai gần sát dinh Tỉng trưởng. Ba mẹ thức sáng đêm thu xếp vội vàng hành lý để sáng sớm mẹ và các anh chị con di tản vào Sài-gòn trước. Trời chưa sáng mà trên các ngã đường Cường-để, Tăng-bạt-hổ, Phan-bội-châu, Gia-long,… đã đầy những xe Cyclo, xe ba bánh…trên chất đầy rương hòm, va-ly, mùng mền, soong chão, chạy về hướng bến xe đò „Quy-nhơn/Tuy-hòa/Nha-trang“.Rút kinh nghiệm mùa hè đỏ lửa 72, mẹ không dám dẫn các con chen chúc trên những chiếc xe đò cũ kỹ thường bị „banh“ hoặc bể bánh xe dọc đường, có đoạn đường bị mìn giật loang lổ phải xuống xe đi bộ cả cây số đã khiến mấy mẹ con đi từ Quy-nhơn đến Nha-trang phải trải qua hai ngày khổ nhọc, hành lý mất mát, còn người thì tơi tả thảm hại. Ba con chạy sang phòng Quân bưu trước mặt trường Cường Để gặp thiếu tá chỉ huy trưởng cũng là Hội-trưởng hội Phụ-huynh-học-sinh của trường ba mẹ dạy, xin cho mấy mẹ con quá giang xe thư đến căn cứ Không quân Phù-cát, nơi cậu Sáu con đang giữ nhiệm vụ khá quan trọng. Đang bận túi bụi nơi phòng hành quân, cậu con phải nhờ một hạ sĩ quan ra cổng phi trường chở mấy mẹ con về nhà cậu trong khu gia binh. Đêm ấy hỏa châu rực sáng cả một vùng, bầu trời như muốn nổ tung vì tiếng máy bay lên xuống vang rền cùng với tiếng đạn pháo kích không ngớt vào khu phi trường. Tiếng điện thoại trong nhà reo liên tục, báo cáo về những cuộc hành quân điện về tới tấp. Nghe nói Bồng-sơn đã mất và dân chúng bắt đầu di tản về phía thị xã. Cậu con chưa kịp ăn xong bữa cơm tối đã phải chạy đến phòng hành quân làm việc sáng đêm. Ngay sáng hôm sau mấy mẹ con được gởi trên chiếc máy bay C. 130 sắp cất cánh về phi trường Tân-sơn-nhất. Ngồi trên xe „Jeep“ từ nhà đến chỗ máy bay đậu mẹ lo sợ tột cùng khi nhìn những xác máy bay trước thăng hai bên lề đường còn bốc khói, tiếng súng cối vẫn ì ầm từ xa vọng lại. Đàn bà trẻ con hối hả leo lên máy bay ngồi sát vào nhau dưới sàn tàu, hành lý cồng kềnh phải bỏ lại hết mới đủ chỗ chứa gần trăm người. Những đứa trẻ dù bị chật chội cũng không dám kêu khóc, người lớn cũng im lặng với những khuôn mặt thất thần, sợ hãi, buồn bã.…
Những người đàn ông phải ở lại tới giờ phút cuối. Ba con thì ở lại trường với ban Giám đốc, cậu con phải trấn giữ căn cứ với những người lính dũng cảm, cấp trên thì đã ra đi từ lúc nào! Nhưng cuối cùng rồi họ cũng chạy theo đám tàn quân. Một quân đội đông đảo đã được huấn luyện tinh thục bấy giờ thiếu người chỉ huy như rắn không đầu, chưa đánh đã chạy trước sức tấn công vũ bão của quân miền Bắc!(Đây là một giai đoạn lịch sử vô cùng bi thảm đối với dân quân miền Nam đã được viết bằng máu và nước mắt của nhiều nhân chứng, một số đã được in thành sách. Ba mẹ có một vài quyển trong số đó, khi nào rảnh rỗi con hãy lần lượt đọc, chỗ nào chưa thấu hiểu ba mẹ sẽ giải đáp cho con).*Cuối cùng rồi Sài Gòn cũng mất. Vào buổi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 cả nhà ông Ngoại con, với đông đủ gia đình các cậu mợ dì dượng con từ miền Trung vào và từ Lục-tỉnh lên, quây quần bên chiếc máy vô tuyến truyền thanh lắng nghe giọng nói buồn rầu của ông Dương Văn Minh, vị tổng thống cuối cùng của VNCH, tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Mọi người nhìn nhau thất vọng, đau đớn….Người dân Sài-gòn (một số đông những người có chức vị và giàu có đã chạy ra ngoại quốc trước ngày 30 tháng 4), số còn lại hoang mang lo sợ. Ban đầu họ rút vào trong nhà đóng chat cua nghe ngóng, chờ đợi. Sau đó họ đổ xô ra đường với đủ loại xe: xe Lam, xe Cyclo, xe Honda, xe đạp…chạy ngược xuôi về hướng Tân-sơn-nhất, bến Bạch-đằng, xa cảng miền Đông, miền Tây, dinh Độc-lập…hoặc về hướng Vũng-tàu, Rạch-giá…mong tìm được chiếc tàu cuối cùng nào của Mỹ còn đến đón người ra đảo Guam chăng?! Một số chạy đi rồi lại chạy về vì sân bay T.S.N. không còn chiếc máy bay nào, tàu đón người cũng đã rời bến! Họ như đàn kiến bò trong lòng chão, không lối thoát.Mấy ngày sau thì Ủy ban quân quản thành phố được thành lập và hết lệnh nầy đến lệnh nọ được ban ra. Quân nhân, công chức ai nấy trở về địa phương nơi cư ngụ khi trước để trình diện „học tập“.Con ra chào đời vào lúc ba con và các cậu các chú con đi „học tập“ đã được hơn ba tháng. Mẹ nằm trong căn phòng rẻ tiền nhất của một nhà bảo sanh nhỏ ở Sài Gòn. Đêm đêm ôm con vô cùng bé nhỏ mẹ đã giọt vắn giọt dài nghĩ đến tương lai mù mịt, nhớ đến ba con đi „cải tạo“ chốn rừng thiêng nước độc, và thương con ra đời trong một thời điểm đen tối nhất của người dân miền Nam. Đứa con út của mẹ đã vô phước ra đời trong cảnh nước mất nhà tan, con như con chim non yếu ớt trước cơn giông bão của cuộc đổi đời.Khi người ta đến hỏi mẹ đặt tên con là gì để ghi vào giấy khai sanh thì mẹ đã không ngần ngại nói lên tiếng nóitận đáy tim:-Tôi đặt tên con tôi là „Quyên – Nguyễn Thị Quyên“.(Từ „Quyên“ ngoài nghĩa „đẹp tốt“ (như thiền quyên), còn có nghĩa là chim Quốc, cũng gọi là „Tử qui“.)(1)Mẹ muốn con mang tên nầy với cả hai ý nghĩa trên.Con chim bé nhỏ của mẹ nay đã lớn lên, khỏe mạnh và tràn trề sức sống đang đứng trong tổ ấm ngước mặt nhìn khoảng trời khoáng đạt trước mắt, sắp sửa dang đôi cánh vững chải tung bay nhập cùng đàn chim Việt rải rác đó đây trong vùng trời Âu cũng như Mỹ, Úc …Dù được sống trong một môi trường đầy đủ vật chất của văn minh Tây-phương, mẹ mong con đừng bao giờ quên tổ quốc mình là dải đất hình chữ S trải dài bên dãy Trường-sơn hùng vĩ và nhìn ra biển Đông bao la, được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng và sông Cửu. Một giang sơn gấm vóc với nhiều hầm mỏ, tài nguyên, và một vựa lúa khổng lồ ở miền Nam mà dân chúng lầm than đói khổ và không được một chút tự do của con người.Để cứu vãn một đất nước nghèo khổ chậm tiến và có cơ nguy bị chia năm xẻ bảy, hiện nay đã có một lớp người thuộc thế hệ chú bác con ở trong nước cũng như ở ngoài nước đang hy sinh cuộc đời mình để tranh đấu từng giờ từng phút quyết tâm đem lại tự do, dân chủ và no ấm thật sự cho dân mình.Rồi mai nầy đến lượt thế hệ trẻ trung các con sẽ trở về, với vốn kiến thức thu thập được nơi các nước văn minh tien tiến, các con sẽ cùng nhau hàn gắn những vết thương trong lòng đất nước và trong lòng người đã bị băng hoại trong mấy thập niên vừa qua, xây dựng lại quê hương cho ngày càng thêm giàu mạnh.Và rồi đây sẽ không còn nữa những người dân Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới, mòn mỏi cả cuộc đời trong cảnh:„Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứaBị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.“(2)

Ghi chu:(1) Theo Han Viet tu dien cua Dao Duy Anh.(2) Tho Vu Hoang Chuong.Oberhausen,

tháng 08-93
Thu Trang

Dòng Đời

"Dòng đời lặng lẽ buông trôiLênh đênh chiếc bóng bên trời tha hương“Tôi vừa bước chân ra khỏi phi trường Duesseldorf đã cảm thấy hơi lạnh phà vào mặt, phải kéo cao cổ áo Mantel (1), quấn thêm chiếc khăn cổ quanh cổ mà vẫn còn run. Khác với thời tiết ở Úc, một xứ mà tôi vừa đi du lịch về, lúc này đã vào Xuân, bầu trời trong xanh và nắng ấm rực rỡ, năm nay ở Đức trời lạnh sớm hơn mọi năm. Ngồi trên xe về nhà, tôi ngắm hàng cây hai bên đường đã trụi lá đưa cành khẳng khiu như những bộ xương người chơ vơ giữa nền trời u ám. Lá rơi đầy trên lề đường và nằm rải rác giữa mặt đường bay thốc lên mỗi khi một chiếc xe hơi chạy vụt qua. Lúc vào thành phố xe chạy qua một vài công viên, tôi thích thú nhìn mãi những cành cây trụi lá được trang điểm bằng vô số bằng những bóng đèn màu luôn chớp sáng trông thật vui mắt. Ở đây thiên hạ đã chuẩn bị lễ Chúa sinh ra đời, tôi chợt nhớ đến một vài kỷ niệm trong những ngày đi làm, nhất là những ngày cận lễ Giáng sinh.Trong chuyến qua thăm viếng các em tôi ở Úc, nhiều người quen khi biết tôi từ một nước Đức xa xôi, nơi vừa trải qua một biến cố lịch sử vô cùng trọng đại là sự sụp đỗ của bức tường Bá Linh cùng lúc với những cuộc cách mạng bùng nổ ở các nước Đông Âu đã thay đổi toàn diện tình hình chính trị ở các nước này. Họ hỏi tôi rất nhiều, tôi không thể nào thỏa mãn được trong vài câu trả lời vắn tắt. Nay nhân dịp Xuân về tôi xin kể một vào kỷ niệm trên đất nước mà tôi đang tạm dung để mong làm ít quà mọn cho các đồng hương bên kia bờ Thái Bình dương cũng như Đại Tây dương xa diệu vợi …Cách nay có lẽ đã hơn hai năm, ngày nào tôi cũng đi đi về về trên tuyến đường xe lửa Oberhausen-Krefeld (2) để làm việc ở một hãng may nơ và cà vạt, đồng thời lãnh thêm hàng về nhà làm (dĩ nhiên đây là nghề tay trái của tôi, từ khi qua xứ sở này nghề tay mặt mấy mươi năm kinh nghiệm của tôi trở nên vô dụng !). Một ngày đứng làm tám tiếng đồng hồ, về đến nhà đã tối mà đêm nào tôi cũng phải thức khuya may, ủi và kết từ cái nơ cho kịp giao. Vì muốn có thêm đồng ra đồng vào nên phải nai lưng ra làm việc chứ chẳng có ai bắt buộc mình. Sống trong xã hội Đức, một nước có nền kỷ nghệ vô cùng tiến bộ và giàu có nhất nhì châu Âu, không có người dân nào phải thiếu ăn thiếu mặc, mà người tỵ nạn chứng tôi lại được hưởng nhiều đặc ân hơn nữa vì chính phủ trợ cấp rất đầy đủ, cho nên người nào cũng thong dong nhàn hạ. Nếu có dư chút đỉnh thì lại đua đòi „mode“ này „mode“ nọ, hay dư dả hơn nữa thì trong mùa hè làm những chuyến du lịch qua các nước lân cận như Hòa Lan, Bỉ, Anh, Pháp, Ý, Monaco, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha … Sang hơn nữa thì lên mấy nước Bắc Âu để xem mặt trời mọc lúc 12 giờ khuya hoặc qua Ai Cập xem Kim Tự Tháp, đi Hy Lạp thăm thủ đô Athenes, vận động trường Olympia …Trở lại chuyện đi làm của tôi, mỗi ngày đáp những chuyến tàu chợ có, tàu chạy nhanh có, nối liền các tỉnh đông dân cư, tôi đã gặp gỡ đủ các hạng người, nhờ vậy thu thập được những mẫu chuyện nho nhỏ mà tôi nghĩ chắc chỉ xảy ra trên nước Đức này.Hôm ấy vào chiều thứ Sáu, ngày làm việc cuối cùng trong tuần nên chuyến xe lửa nào cũng đông nghẹt hành khách. Chuyến tàu mà chiều mà tôi bước lên cũng không ngoại lệ. Xe ngừng ở ga Krefeld, bao nhiêu người chen chúc lên để về các tỉnh Duisburg, Oberhausen, Essen, Bochum, Dortmund ... Tôi khệ nệ hai tay xách hai túi bằng plastic thật to: 1 cái đựng vải làm nơ, làm dây, khuy móc lỉnh kỉnh ..., 1 cái chứa hơn 300 chiếc kèn hình tròn nho nhỏ để nhét vào cánh nơ, bóp nhẹ một tí cũng phát ra tiếng nhạc. Loại nhạc này nghe một vài lần cũng thích nhưng nếu hàng trăm cái cùng „ré“ lên một lượt thì thật là nhức đầu ! Tôi nhẹ nhàng lách qua đám đông tránh đụng chạm tới chiếc túi „đầy âm thanh“. Lên xe tôi chọn chỗ ngồi trong một góc và cẩn thận để chiếc túi kèn trên chỗ đề hành lý và túi kia to hơn được đẩy dưới ghế ngồi. Khi xe mới chạy tốc độ còn chậm thì các thứ trong túi xách vẫn còn êm ru, tôi yên tâm ngồi dựa ngửa lim dim mắt cố ngủ một chút sau một ngày làm việc mệt mõi. Nhưng xe càng lúc càng tăng tốc độ, mọi vật cũng rung rinh theo nhịp lúc lắc của toa xe. Một âm thanh nho nhỏ vẳng lên, rồi hai, ba, …. và nhiều cái kèn cùng trỗi lên một lượt điệu nhạc bài ca Giáng sinh „Jingle Bells“ lẩn trong tiếng xe lửa chạy rầm rập. Tôi rất lo không biết làm sao tắt cái âm thanh eo éo đó đi vì người Đức vốn không thích ai làm phiền mình, dù chỉ làm phiền cái lỗ tai, và người làm phiền lại là dân da vàng mũi tẹt như tôi thật là khó coi ! Cũng may hai người thanh niên Đức ngồi đối diện với tôi, một người đang ngủ gà ngủ gật, một người chỉ mỉm cười vu vơ nhìn ra cửa sổ làm như không để ý đến. Nhưng khổ nỗi có cặp vợ chồng già ngồi ở băng bên kia mỗi khi nghe tiếng nhạc ngân lên lại đưa mắt nhìn tôi và xầm xì với nhau, rồi họ lại chồm lên nói nhỏ với người đàn ông trung niên ngồi trước mặt. Ông ta quay lại nói với tôi:- Bà có thể tắt nhạc được không ?Tôi lắc đầu nhún vai:- Xin lỗi, tôi rất lấy làm tiếc không thể làm sao mà tắt nhạc được. Chúng nó tự động kêu và tự động im mà thôi !Họ cũng đành lắc đầu chịu trận. May thay hai ông bà già đó chuẩn bị xuống ở ga sắp tới, và hành khách trên xe cũng đã quen với âm thanh đó nên không còn ai phàn nàn gì nữa.Cũng trên những chuyến xe đi về làm việc ở tỉnh xa, tôi còn gặp gỡ vài nhân vật khá đặc biệt.Một buổi chiều mùa đông, mới hon 4 giờ, trời đã sâm sẫm tối. Trên sân ga Krefeld hành khách lớp đứng lớp ngồi chờ đợi chuyến xe lửa đến. Nguời nào cũng co ro trong chiếc áo Mantel, áo Jacke dầy cộm, có người còn chụp trên đầu chiếc mũ len, mang đôi găng tay mà vẫn không chịu nỗi với từng cơn gió lạnh như cắt da. Ai cũng đăm đăm nhìn lên tấm bảng nhỏ báo tin giờ xe đến. Bỗng từ chiếc loa bắc gần đó giọng nói của một nhân viên hỏa xa vang lên: „Chuyến xe lửa khởi hành từ Moenchengladbach đi về Krefeld, Duisburg, Oberhausen … bị trể 30 phút, các hành khách đi tuyến đường này xin chờ ở cửa số 3“. Mọi người lắng nghe và lộ vẻ thất vọng, chán nản … là phải chờ thêm nửa tiếng đồng hồ trên sân ga lạnh lẽo này. Tôi lại khệ nệ xách 2 túi nặng trĩu bước xuống hầm để tránh những cơn gió mùa đông. Đang đi tới đi lui cho đở sốt ruột, tôi chợt chú ý tới một thanh niên còn khá trẻ người Á đông (ở bên này mà gặp được một người Á châu giữa đám đông người Đức rất hiếm). Tôi thầm nghĩ không biết đây là người Việt, Tàu, Đại Hàn hay Nhật Bản ? Anh ta ăn mặc khá tươm tất, áo sơ mi trắng, cà vạt đen với bộ đồ vét màu xanh thẫm, bên ngoài còn khoác chiếc áo Mantel màu hột gà. Khác với đám đông nhấp nhổm đứng ngồi không yên, anh ta ung dung ngắm nhìn và vuốt ve con chó lông xù của một bà già Đức mập mạp đứng gần đó. Rồi thời gian cũng qua đi, đoàn xe lửa từ Moenchengladbach đã chạy đến ngừng trước sân ga. Mọi người hấp tấp bước lên xe, tôi cũng nhanh chân bước vào một toa dành cho hành khách không hút thuốc. Anh chàng nguời Á đông lững thững đi lên sau cùng, ngẫu nhiên lại ngồi trước mặt tôi. Anh ta nhìn tôi mấy lượt, tôi cũng nhìn lại để đoán xem anh ta thuộc người nước nào. Bỗng anh ta xổ một tràng tiếng Tàu, tôi lắc đầu ra dấu không hiểu gì cả. Mấy người Đức ngồi bên cạnh cũng trố mắt nhìn anh ta. Sau cùng anh ta hỏi tôi một câu bằng tiếng Đức, giọng Đức còn ngập ngừng, lơ lớ:- Xin lỗi, bà từ nước nào đến ?- Tôi từ Việt Nam qua. Còn ông người Trung Hoa phải không ? Ông qua đây lâu chưa ?- Vâng, tôi qua đây đã được 6 tháng.- Tôi thấy ông giống hình một tài tử chiếu bóng Hồng Kông lắm, ông có đóng phim không ? Người Việt chúng tôi rất thích xem phim của Hồng Kông.- Cám ơn lời khen của bà, nhưng tôi không đóng phim bao giờ. Qua đây có 6 tháng mà tôi nhớ nhà quá, tôi rất mong về lại Trung Hoa.- Tại sao phải về lại Trung Hoa ?- Tôi còn vợ và một con trai nhỏ bên ấy. Còn bà qua đây lâu chưa ? Chừng nào về lại Việt Nam ?- Tôi qua Đức được hơn 4 năm rồi, hiện sống với gia đình ở đây. Tôi nghĩ là không bao giờ về lại Việt Nam vì nước tôi đang bị nhà cầm quyền cộng sản cai trị.Anh ta chỉ cười gượng rồi lảng sang chuyện khác. Một lúc sau không ngăn được tò mò tôi lại hỏi:- Ông ở vùng nào bên Tàu ? Hồng Kông hay Đài Loan ?- Tôi từ Bắc Kinh sang. Tôi là kỷ sư thủy điện bên ấy được cử sang đây học tu nghiệp. Sau khi học một khóa tiếng Đức 6 tháng tôi sẽ đi tham quan các nhà máy ở vùng Krefeld này để rút kinh nghiệm về phục vụ xứ sở chúng tôi.Câu trả lời của anh ta làm tôi vô cùng bỡ ngỡ, hối hận nãy giờ đã quá „nhiều chuyện“, nói những chuyện không đáng nói.Từ đó đến khi anh ta xuống ga Duisburg chúng tôi không trao đổi lời nào nữa. Tôi nghĩ chắc anh chàng cộng sản ở Bắc Kinh này sẽ xem tôi là kẻ „thù nghịch“ và cũng hơi lo sợ sẽ chạm mặt anh ta lần nữa. Hai hôm sau tôi lại gặp anh ta trên chuyến xe điện từ vùng Tonivoerst (3) về ga Krefeld, ngồi cách tôi một hàng ghế. Chưa kịp tránh mặt, anh ta đã đứng lên nói một câu rất lịch sự như bất cứ một người Đức lịch sự nào:- Guten Tag. Ich freue mich sehr, Sie wiederzusehen ! (4)Tôi cũng chào lại: „Guten Tag“ nhưng không thêm câu sau.Từ đó tôi không còn gặp anh ta lần nào nữa.Nhân vật tôi gặp kế tiếp cũng thật đáng ghi nhớ.Một buồi sáng vào khoảng hơn 10 giờ, trên toa xe rất ít người, những người đi làm, đi học, ... đã đáp chuyến xe từ sáng sớm. Đến giờ giấc này chỉ còn phần nhiều những ông bà già người Đức mới nhàn nhã xuất hành đi đến các tỉnh lân cận mua sắm hoặc thăm viếng bà con bạn bè. Người Đức nào cũng ăn mặc khá lịch sự: giới trẻ thì chưng diện rất thời trang dù đi làm hoặc đi học; người già ăn mặc thật trang trọng nhất là mấy bà già người Đức, như muốn níu lại thời thanh xuân đã qua, họ diện những chiếc áo khoác ngoài đắc tiền, những chiếc vày sặc sỡ thẳng nếp, nữ trang đeo đầy cổ, đầy cườm tay và hầu như trên mỗi ngón tay ... Như thường lệ, tôi chọn một chỗ ngồi ở cuối toa gần cửa sổ để ngắm cảnh bên ngoài và để theo đuổi những ý nghĩ riêng tư, hoặc tò mò nhận xét từng người ngồi chung quanh cho qua thời gian. Tôi chú ý đến một người đàn bà khá lớn tuổi, khoảng trên năm mươi, có vẻ lạc lỏng giữa những người Đức khác, ngồi riêng rẻ một mình, và ngay trước mặt tôi. Tò mò tôi đưa mắt quan sát thấy bà ta ăn mặc rất giản dị, hơi quê mùa là khác. Chiếc áo Mantel màu vàng lợt hơi cũ khoác ngoài chiếc áo „blouse“ màu trắng cổ tròn kiểu tầm thường trên chiếc váy màu đen rộng thùng thình dài gần phủ đôi giày đen kiểu thô và không hợp thời trang chút nào. Khi xe lửa chạy khỏi ga Oberhausen một đoạn đường, sắp đến một ga nhỏ, bà đứng dậy thò đầu ra cửa sổ nhìn về phía trước một lúc lâu rồi quay lại hỏi tôi:- Xin lỗi, sắp đến ga Rheinhausen chưa ?Tôi đáp còn 2 ga nữa mới tới. Bà cám ơn rồi ngồi xuống bắt chuyện với tôi.- Tôi ở bên Đông Đức qua đây thăm gia đình. Bữa nay tôi đến thăm một nguời bạn ở Rheinhausen. Tôi ở lại đây 2 tháng, đến tháng sau thì về lại Đông Đức.À thì ra một người ở bên kia „bức màn sắt“, không bỏ lỡ dịp may, tuy với số vốn tiếng Đức còn nghèo nàn, tôi cũng làm một cuộc „phỏng vấn“ chớp nhoáng:- Bà ở Đông Đức lâu chưa ? Hiện bà làm gì ở bên ấy ?- Tôi ở bên ấy lâu lắm rồi, từ năm 1945 lận. Tôi là công nhân viên nhà nuớc, làm ở một hợp tác xã phân phối thực phẩm.- Chắc bà vẫn còn bà con thân thuộc bên này.- Vâng, gia đình con trai tôi ở tỉnh Muelheim. Mỗi năm tôi xin đi phép qua thăm nó một lần.- Bên Đông Đức vẫn còn dưới chế độ cộng sản phải không bà ?Bà lắc đầu quầy quậy:- Không, Đông Đức đã tiến lên xã hội chủ nghĩa lâu rồi, không còn chế độ cộng sản nữa.Tôi thầm nghĩ thì ra có sự khác biệt mà mình không để ý đến và thầm nói „cũng chẳng khác nhau mấy !“, bèn hỏi tiếp:- Nếp sống bên ấy như thế nào ? Có bằng bên nay không ?- Ồ, bên Đông Đức đời sống xã hội tốt hơn ở đây nhiều. Người nào cũng có việc làm chứ không bị thất nghiệp nhiều như ở đây. Thức ăn lại rẻ nữa, 1 kg khoai tây chỉ có 40 Pfennig (5) thôi, mà bên nay đến 50 Pfennig/1 kg.(bà ấy quên không nói mức lương bên Đông Đức thấp hơn nhiều, theo tôi được biết một người công nhân trung bình chỉ lãnh 300 DM/1 tháng trong khi ở Tây Đức họ lãnh từ 1.800 à 2.000 DM).Bà còn định kể lể nhiều về đời sống lý tưởng trong xã hội chủ nghĩa thì xe lửa vừa ngừng trước ga Rheinhausen. Bà ta vội vàng đứng lên đi ra phía cửa để bước xuống xe, không kịp chào từ giã tôi.Nhìn theo bóng dáng nhỏ thó đứng bỡ ngỡ ở sân ga, bà đang tìm lối đi xuống hầm để ra ngoài, tôi thầm nghĩ không riêng gì ở Việt Nam mà ở bất cứ nước CS nào trên thế giới, người dân luôn luôn bị nhồi nhét vào đầu óc khá sâu đậm chủ thuyết Marxist Leninist, họ chỉ thấy cuộc sống lý tưởng giả tạo trong xã hội chủ nghĩa, cam lòng chịu phục tùng giai cấp cầm quyền độc tài chuyên chế chỉ đem lại cho họ cuộc sống thiếu thốn và đói khổ.Ai ngờ sau lần gặp gỡ đó, chỉ không đầy một năm sau, vào ngày 09.11.1989 bức tường ngăn đôi 2 thế giới cách biệt kia sụp đổ. Hàng mấy trăm ngàn người dân Đông Đức vứt bỏ của cải, nhà cửa, có người còn bỏ rơi cả con cái, trốn thoát qua Tây Đức bằng đủ phương tiện: xe hơi, xe bus, xe lửa, lội bộ … Mỗi cuối tuần hàng triệu người từ bên Đông tràn qua bên Tây để mua sắm máy móc, áo quần, vật dụng, thức ăn, …. để đem về Đông Đức. [mỗi người vượt qua thăm viếng Tây Đức đều được nhà nước bên này tặng 100 DM (bằng 1000 tiền Đông Đức) gọi là tiền „chào mừng“]. Những cửa hàng ở các tỉnh lân cận với Đông Đức, nhất là ở Tây Bá Linh, đều bị „vét“ sạch không còn thứ nào.Trên các đài vô tuyến truyền hình đều chiếu cảnh kẹt xe cuối tuần trên các trục giao thông từ Đông qua Tây Đức. Hàng mấy trăm ngàn chiếc xe hơi nhỏ kiểu cổ lổ thời đệ nhị thế chiến còn sót lại (sau ngày thống nhất được dân Tây Đức mua với giá cao để làm sưu tập „đồ cổ“ !), nhích từ chút một trên các ngã đường qua các tỉnh ở Tây Đức. Trên màn ảnh truyền hình người ta còn thấy xuất hiện một bà già 80 tuổi người Đông Đức ràn rụa nước mắt, tay cầm trái chuối già giơ lên cao, run run phát biểu: „Trên 40 năm nay tôi mới được ăn trái chuối đầu tiên này !“ Người dân Tây Đức vô cùng xúc động và sững sờ trước lời thú nhận chân thành của bà lão. Không ngờ những thức ăn rẻ tiền thừa mứa bên các nước tư bản lại vô cùng quý báu đối với người dân bên kia.Bức tường mỏng manh và thấp bé biết bao so với bức „Vạn lý trường thành“ của Trung Quốc đã ngăn cách cuộc sống quá đỗi chênh lệch của người dân hai miền và che khuất tầm mắt người dân bên kia không nhìn thấy ánh đèn rực rỡ đêm đêm với cuộc sống rộn rã của thế giới bên này.Thề rồi bức tường cũng bị sụp đổ cùng với chế độ độc tài sắt máu đã đưa người dân đến chỗ lầm than và vô cùng thoái hóa. Bức tường đã bị hàng ngàn hàng vạn cánh tay phá vỡ và hàng trăm ngàn bức chân dẫm nát lên để đi tìm tự do.Người dân Đông Đức như thấy mình mới thức tỉnh sau một giấc ngủ dài gần nửa thế kỷ, họ đã sống thụt lùi mấy mươi năm trường trong khi thế giới bên ngoài đã tiến lên những bức tiến vạn dặm.Cơn bão cách mạng đã phá tan bức tường ô nhục trong suốt hai mươi tám năm qua đã khiến giấc mơ thống nhất hai miền của hơn tám mươi triệu nhân dân Đức biến thành sự thực. Cơn bão nào sẽ thổi qua nước Việt Nam bé nhỏ để quét sạch tập đoàn cộng sản cầm quyền chuyên chế và bóc lột ? Biết bao giờ hơn bảy mươi triệu người dân trong nước, với sự hổ trợ của hơn hai triệu nguời Việt tha hương ở hải ngoại, đứng lên làm nhiệm vụ lịch sử của mình là chiến đấu để cứu đất nước ra khỏi cùm xích cộng sản và đem lại nền dân chủ thật sự tự do, no ấm cho toàn dân ?
Oberhausen, đầu mùa đông 91
Thu Trang